• (có người nhìn thấy một người tránh một vũng nước và một nhà văn thấy cái huyền bí không thể thốt thành lời)
    Chia sẻ một bài tiểu luận hay của George Orwell – tác giả Trại súc vật và 1984.
    Bài dịch bởi Chat GPT, đọc rất mượt. Tiểu luận ngắn chỉ hơn 2,000 chữ.

    ——-

    Đó là ở Miến Điện, vào một buổi sáng sũng nước trong mùa mưa. Một thứ ánh sáng ốm yếu, như thiếc vàng, xiên chéo qua những bức tường cao vào sân nhà tù. Chúng tôi đứng đợi bên ngoài các phòng giam dành cho tử tù, một dãy nhà lợp mái thấp, phía trước là hai lớp song sắt, trông như những chiếc lồng nhốt thú nhỏ. Mỗi buồng giam chừng ba mét vuông, trống trơn, chỉ có một tấm ván làm giường và một cái chum nước uống. Trong vài buồng, những người đàn ông da nâu lặng lẽ ngồi xổm sát song sắt phía trong, khoác chăn quanh người. Đó là những tử tù, sẽ bị treo cổ trong vòng một hoặc hai tuần tới.

    Một tù nhân đã được đưa ra khỏi buồng giam. Anh ta là người theo đạo Hindu, thân hình gầy quắt hệt một sợi rơm, đầu cạo trọc, đôi mắt mơ hồ như nước. Anh ta có bộ ria mép rậm và dày, buồn cười là quá khổ so với thân người, giống ria mép của một nhân vật hề trên phim. Sáu cai ngục người Ấn cao lớn đang canh giữ và chuẩn bị đưa anh ra pháp trường. Hai người đứng canh với súng đã gắn lưỡi lê; những người còn lại còng tay anh, xỏ một sợi xích qua còng tay rồi móc vào thắt lưng của họ, và buộc chặt hai cánh tay anh ep sát vào thân. Họ vây rất sát quanh anh, tay luôn chạm vào anh một cách thận trọng, vuốt ve, như thể suốt lúc đó đang sờ xem anh có còn ở đó không. Nó giống hệt cảnh những người ta giữ một con cá còn sống, sợ nó nhảy tuột trở lại nước. Nhưng anh ta đứng im, không kháng cự, buông thõng tay cho dây trói, dường như hầu như không nhận ra chuyện gì đang xảy ra.

    Đồng hồ điểm tám giờ và một hồi kèn mỏng manh, thảm đạm vang lên trong không khí ẩm ướt từ doanh trại xa. Viên giám thị nhà tù, đứng riêng khỏi chúng tôi, uể oải khều sỏi bằng cây gậy, ngẩng đầu lên khi nghe tiếng kèn. Ông ta là bác sĩ quân đội, có bộ ria xám như bàn chải đánh răng và giọng nói cộc cằn.

    “Vì Chúa, làm nhanh lên, Francis,” ông gắt gỏng. “Đáng lẽ tên này lúc này phải chết rồi. Chưa sẵn sàng à?”

    Francis, trưởng cai ngục, một người Dravid béo mặc đồ kaki trắng và đeo kính gọng vàng, vẫy bàn tay đen đúa.

    “Vâng thưa ông, vâng thưa ông,” ông ta lắp bắp. “Mọi thứ đã chuẩn bị ổn thỏa. Đao phủ đang đợi. Chúng ta sẽ tiến hành.”

    “Thế thì bước đều, nhanh lên. Tù nhân không được ăn sáng cho đến khi việc này xong xuôi.”

    Chúng tôi lên đường ra pháp trường. Hai cai ngục đi hai bên tù nhân, súng khoác vai; hai người khác đi sát cạnh anh, nắm lấy tay và vai anh, như vừa đẩy vừa đỡ. Những người còn lại, các viên chức và đại loại thế, đi phía sau. Bất chợt, khi chúng tôi đã đi được chừng mười thước, đoàn người dừng khựng lại, không một mệnh lệnh hay báo trước. Một việc ghê gớm đã xảy ra — một con chó, không biết từ đâu, xuất hiện trong sân. Nó lao đến giữa chúng tôi, sủa inh ỏi, nhảy nhót vòng quanh, vẫy đuôi mừng rỡ như phát điên vì gặp nhiều người đến thế. Nó là một con chó to, lông xù, nửa Airedale, nửa chó hoang. Trong chốc lát nó nhảy nhót quanh chúng tôi, rồi trước khi ai kịp ngăn lại, nó lao về phía tù nhân, nhảy chồm lên toan liếm mặt anh ta. Mọi người đứng sững, quá sửng sốt đến nỗi không ai kịp túm lấy con chó.

    “Ai cho con chó chết tiệt này vào đây?” viên giám thị quát. “Bắt nó đi!”

    Một cai ngục tách ra khỏi đội hộ tống, vụng về đuổi theo con chó, nhưng nó lượn lờ tránh né, coi tất cả như trò chơi. Một cai ngục người Âu-Á trẻ tuổi nhặt một nắm sỏi ném về phía nó, nhưng nó tránh được rồi lại chạy về phía chúng tôi. Tiếng sủa vang vọng trong tường nhà tù. Tù nhân, trong tay hai cai ngục, nhìn cảnh đó một cách thờ ơ, như thể đây cũng chỉ là một thủ tục khác của việc treo cổ. Phải mất mấy phút mới có người bắt được con chó. Rồi chúng tôi luồn khăn tay của tôi qua cổ nó và lại tiếp tục đi, trong khi nó vẫn giằng giật và rên rỉ.

    Pháp trường cách đó chừng bốn mươi thước. Tôi nhìn tấm lưng nâu trần trụi của tù nhân đi ngay trước mặt. Anh đi vụng về với đôi tay bị trói, nhưng khá vững vàng, với dáng đi lắc lư đặc trưng của người Ấn không bao giờ duỗi thẳng đầu gối. Mỗi bước đi, cơ bắp anh khớp lại gọn gàng, lọn tóc trên đỉnh đầu nhảy lên xuống, bàn chân in dấu xuống nền sỏi ướt. Và có một lần, bất chấp hai người nắm mỗi bên vai, anh bước lệch sang một chút để tránh một vũng nước trên lối đi.

    Thật lạ, cho đến giây phút ấy tôi chưa bao giờ nhận ra việc hủy diệt một con người khỏe mạnh, đang tỉnh táo, thực sự có nghĩa là gì. Khi thấy tù nhân tránh vũng nước, tôi thấy cái huyền bí, cái sai trái không thể thốt thành lời, của việc cắt ngắn một sinh mệnh khi nó đang trôi ở đỉnh triều. Người này không hề hấp hối, anh ta đang sống như chúng tôi đang sống. Tất cả các cơ quan trong thân thể anh vẫn làm việc — ruột tiêu hóa thức ăn, da tự tái tạo, móng dài ra, mô hình thành — tất cả cần mẫn trong một trò hề trang nghiêm. Móng tay anh vẫn còn dài ra khi anh đứng trên sập, khi anh đang rơi qua không khí với một phần mười giây sự sống còn lại. Đôi mắt anh vẫn thấy nền sỏi vàng và bức tường xám, và bộ não anh vẫn nhớ, vẫn dự đoán, vẫn suy luận — thậm chí suy luận về vũng nước. Anh và chúng tôi là một nhóm người cùng đi, cùng nhìn, cùng nghe, cùng cảm, cùng hiểu một thế giới; và chỉ trong hai phút nữa thôi, với một cái khựng đột ngột, một trong chúng tôi sẽ biến mất — bớt đi một ý thức, bớt đi một thế giới.

    Giàn treo nằm trong một sân nhỏ, tách khỏi khu chính của nhà tù, um tùm cỏ dại có gai cao quá đầu gối. Đó là một công trình bằng gạch như ba mặt của một cái chòi, phía trên lót ván, và trên nữa là hai xà ngang và một thanh đòn có sợi dây lòng thòng. Đao phủ, một tù khổ sai tóc bạc trong bộ đồng phục trắng của nhà tù, đứng chờ bên “cỗ máy” của mình. Ông ta cúi khom phục tùng khi chúng tôi bước vào. Theo hiệu lệnh của Francis, hai cai ngục nắm tù nhân chặt hơn bao giờ hết, nửa dìu nửa đẩy anh tới pháp trường và giúp anh vụng về leo lên thang. Rồi đao phủ leo lên và đặt thòng lọng quanh cổ tù nhân.

    Chúng tôi đứng đợi cách đó chừng năm thước. Các cai ngục tạo thành một vòng lỏng lẻo quanh giá treo cổ. Rồi, khi thòng lọng đã cố định, tù nhân bắt đầu kêu gào vị thần của mình. Đó là một tiếng kêu cao, lặp đi lặp lại: “Ram! Ram! Ram! Ram!”, không vội vã, không sợ hãi như lời cầu nguyện hay kêu cứu, mà đều đặn, nhịp nhàng, gần như tiếng chuông. Con chó đáp lại bằng một tiếng rên. Đao phủ, vẫn đứng trên giá treo cổ, lôi ra một cái túi vải bông nhỏ như bao bột và trùm xuống mặt tù nhân. Nhưng âm thanh, dù bị vải che, vẫn vang lên không dứt: “Ram! Ram! Ram! Ram! Ram!”

    Đao phủ trèo xuống và đứng sẵn, tay đặt trên cần gạt. Thời gian dường như kéo dài. Tiếng kêu đều, nghẹn lại từ tù nhân tiếp diễn, “Ram! Ram! Ram!”, không đứt đoạn một giây. Viên giám thị cúi đầu, chấm xuống ngực, chầm chậm khều đất bằng cây gậy; có lẽ ông đang đếm tiếng kêu, cho tù nhân một số lượng nhất định — năm mươi, có thể, hay một trăm. Mọi người đều tái mét. Những người Ấn xám ngoét như cà phê hỏng, và một hai lưỡi lê run rẩy. Chúng tôi nhìn con người bị trói, bị trùm đầu đứng trên sập, và nghe tiếng kêu của anh — mỗi tiếng kêu là thêm một giây sống; cùng một ý nghĩ trong đầu tất cả chúng tôi: ôi, giết anh ta nhanh lên, kết thúc đi, làm cho cái âm thanh ghê tởm kia ngừng lại!

    Đột ngột viên giám thị quyết định. Ông ngẩng phắt đầu, vung gậy ra hiệu nhanh gọn.

    “Chalo!” ông hét gần như dữ dội.

    Có tiếng kim loại lách cách, rồi im phăng phắc. Tù nhân đã biến mất, và sợi dây đang tự xoắn. Tôi buông tay con chó, nó phóng ngay ra phía sau pháp trường; nhưng đến nơi, nó khựng lại, sủa, rồi lùi vào một góc sân, đứng giữa đám cỏ dại, rụt rè nhìn chúng tôi. Chúng tôi đi vòng quanh giá treo cổ để kiểm tra thi thể tù nhân. Anh ta treo lơ lửng, mũi chân chúc thẳng xuống, quay rất chậm, chết cứng như đá.

    Viên giám thị đưa cây gậy ra chọc vào thân thể trần trụi; nó đu đưa nhẹ.

    “Ổn rồi,” ông nói. Ông lùi ra khỏi bên dưới giá treo cổ và thở phào một hơi sâu. Vẻ u ám trên mặt ông biến mất đột ngột. Ông liếc đồng hồ.

    “Tám giờ tám phút. Rồi, thế là xong buổi sáng nay, tạ ơn Chúa.”

    Các cai ngục tháo lưỡi lê và diễu đi. Con chó, hết hứng và ý thức được mình đã làm sai, lẽo đẽo theo sau. Chúng tôi rời sân pháp trường, đi ngang qua dãy buồng giam tử tù, về sân lớn trung tâm của nhà tù. Các tù khổ sai, dưới sự giám sát của cai ngục cầm gậy, đang nhận bữa sáng. Họ ngồi xổm thành hàng dài, mỗi người cầm một cốc thiếc, trong khi hai cai ngục xách thùng đi quanh múc cơm; quang cảnh trông khá đỗi gia đình, vui vẻ, sau vụ treo cổ. Một cảm giác nhẹ nhõm khổng lồ ập đến với chúng tôi khi công việc đã xong. Người ta thấy muốn hát lên, muốn chạy, muốn cười khúc khích. Bỗng chốc mọi người nói cười rôm rả.

    Cậu cai ngục Âu-Á đi bên tôi gật đầu về phía chúng tôi vừa đi qua, cười đầy ẩn ý:

    “Ngài có biết không, ngài, người bạn của chúng ta (ý cậu ta là người chết), khi nghe tin kháng cáo bị bác, đã đái ra sàn phòng giam. Vì sợ. — Mời ngài hút một điếu thuốc của tôi, thưa ngài. Ngài có thích cái hộp bạc mới của tôi không? Mua của bọn buôn Tây, hai rupee tám anna đấy. Kiểu Âu sang trọng.”

    Vài người cười — cười cái gì, chẳng ai rõ.

    Francis đi cạnh viên giám thị, nói không ngớt.

    “Vâng thưa ông, mọi thứ diễn ra hết sức suôn sẻ. Hoàn toàn xong xuôi — vút! như vậy. Không phải lúc nào cũng thế — ô, không đâu! Tôi từng biết những ca bác sĩ phải chui xuống dưới giá treo và kéo chân tù nhân để chắc chắn là chết. Thật khó chịu vô cùng!”

    “Vùng vằng phải không? Tệ thật,” viên giám thị nói.

    “Ôi thưa ông, còn tệ hơn khi bọn họ cứng đầu! Một người, tôi nhớ, bám chặt vào song sắt lồng của hắn khi chúng tôi đến đưa đi. Ngài khó mà tin được rằng, phải sáu cai ngục mới lôi được hắn ra, mỗi chân ba người kéo. Chúng tôi giảng giải với hắn. ‘Này anh bạn,’ chúng tôi nói, ‘anh nghĩ đến bao nhiêu đau khổ và phiền toái anh đang gây cho chúng tôi đi!’ Nhưng không, hắn không nghe! Ôi, hắn thật phiền phức!”

    Tôi nhận ra mình đang cười thành tiếng. Mọi người đều cười. Ngay cả viên giám thị cũng cười khoan dung.

    “Tốt hơn hết là mọi người ra ngoài uống một chầu,” ông nói thân mật. “Tôi có một chai whisky trong xe. Chúng ta cần nó.”

    Chúng tôi đi qua cổng sắt lớn của nhà tù ra đường.

    “Kéo chân hắn!” một viên pháp quan người Miến bất thần reo lên và phá ra cười khanh khách. Chúng tôi lại cười ồ. Vào khoảnh khắc đó, câu chuyện của Francis bỗng trở nên lố bịch đến kỳ lạ. Chúng tôi cùng nhau uống rượu, người bản xứ và người châu Âu, rất hòa nhã. Người chết cách đó chỉ trăm thước.

  • Ngày 1/12/2025 – thứ hai, đầu tuần, đầu tháng – hai mẹ con dắt nhau đi khám tổng quát. Bệnh viện Hoà Hảo là nơi được chọn, theo sự giới thiệu của Ba.
    Trong ký ức của tôi, đây là một nơi uy tín với giá thành rẻ, trước đây từng khá có tiếng trong giới học sinh, vì ở đây người ta trả kết quả bằng tiếng Anh rất thuận tiện cho việc nộp hồ sơ du học.
    Bẵng đi hơn 15 năm, bây giờ tôi mới quay trở lại.
    Và ấn tượng mà Hoà Hảo của hiện tại để lại cho tôi là một cảm giác ngượng ngùng xuyên suốt. Có đến ba lần nơi đây làm cho tôi cảm thấy ngượng, thấy xấu hổ – sự xấu hổ không phải vì bản thân đã làm điều gì sai mà vì có một ranh giới đã bị vượt qua, hay tệ hơn là không được nhìn đến.

    Ngượng ngùng lần thứ nhất – Phòng thay đồ khu chụp X-quang.
    Một căn phòng nhỏ, đơn giản với diện tích khoảng hai mét vuông, có hai lối vào ra ở cùng một vách được che chung bởi một tấm rèm lớn. Trong không gian đó, hai rổ đồ được đặt sẵn, một dơ một sạch, để thay. Và đó là tất cả. Không có vách ngăn, không có rèm cho riêng từng người. Một không gian tập thể. Tôi bước vào phòng và giật mình khi thấy có hai người khác đang thay đồ. Tất cả né tránh ánh mắt nhau; đưa mắt nhìn lên trần, nhìn xuống sàn gạch hay hướng tới một nơi vô định nào để không phải thấy và bị nhìn thấy nỗi ngượng ngùng đang hiện diện. Mỗi người tìm cho mình một góc kín đáo (!?), thường là sát tường, và cố gắng nhanh chóng hoàn thành việc thay đồ để mau mau được ra khỏi phòng.
    Khái niệm riêng tư đã bị lãng quên trong phòng thay đồ khu X-quang của bệnh viện. Hay vì đây là bệnh viện nên người ta thấy không còn cần thiết chú ý đến riêng tư nữa?

    Cú sốc thứ hai – Phòng siêu âm tim.
    Khu vực này là một dãy gồm nhiều phòng và lần này các phòng khám dĩ nhiên đã được ngăn cách với nhau (bằng những tấm rèm). Ở hành lang trước các dãy phòng, người đi khám bệnh ngồi chờ gọi đến lượt mình trên những chiếc ghế nhựa màu trắng được bố trí sẵn. Khi tôi đang ngồi đợi với một người bên cạnh thì cả hai được gọi vào cùng một lúc. Đúng vậy, hai người được gọi một lúc, vào chung một phòng khám! Lúc này tôi đã thấy lạ, và y như rằng vừa bước vào thì một người đã nằm sẵn trên giường. Áo của họ đã được kéo lên, phần trên cơ thể họ, trong một thoáng, đã phơi bày ra trước mắt tôi khi tôi chưa kịp tránh. Bác sĩ siêu âm tim cho họ, tôi và người kế tiếp ngồi trong cùng một không gian, cũng trên những chiếc ghế màu trắng, đặt ngay cạnh giường. Một ít phút sau thôi, tôi là người nằm trên chiếc giường đó, trải nghiệm cùng một cảm giác trần trụi và xấu hổ, phải phơi bày cơ thể mình trước mặt, không chỉ bác sĩ, mà còn trước những bệnh nhân bất đắc dĩ khác có mặt cùng thời điểm. Chỉ nằm đó, không suy nghĩ được gì. Cảm giác như con người thu nhỏ lại, co rút lại và ta không thật sự nhìn vào bất cứ nơi nào hay lên một khuôn mặt nào nữa. Có cái gì như tan ra: là phẩm giá?

    Ngượng ngùng lần thứ 3 – Phòng khám phụ khoa.
    Lần này là một trải nghiệm gián tiếp. Tôi được phát số 99, ngồi đợi ngoài hành lang cạnh một chị mang số 97. Chị đậm người, nghe giọng nói hình như người Phú Yên, trên khuôn mặt không giấu được vẻ bối rối của người lần đầu đi khám sức khoẻ. Chị cho tôi xem kết quả xét nghiệm và hỏi tôi về những con số. Chúng tôi trò chuyện với nhau. Một cuộc trao đổi ngắn ngủi, nhưng đã có một mối tương giao được hình thành. Tôi biết chị rõ hơn so với người ngồi cách tôi hai mét.
    Lát sau, hai chị em được gọi vào trong và chờ thêm ít phút trước khi vào phòng khám (lúc này đã được khám riêng từng người). Chị vào trước tôi, và đây là lúc cảm giác kia lại xuất hiện: tôi nghe được những điều vốn dĩ không nên nghe. Bác sĩ hỏi chị những câu hỏi riêng tư tế nhị về đời sống tình cảm, những điều đáng lý chỉ nên ở riêng trong căn phòng đó, chỉ nên được biết bởi một vài con người đó, thì giờ đây lại xuyên qua không gian lọt vào tai tôi, rõ ràng. Tôi đã nghe tất cả. Giọng bác sĩ vang to còn vách ngăn cửa trượt thì quá mỏng. Như tôi đang xâm phạm vào vùng đất cá nhân của chị. Tôi nghe trong câu trả lời của chị có lẫn sự rụt rè, ngơ ngác của một người lao động bình dân lần đầu đi khám, nghe được một điều gì như là sự yếu thế trong giọng nói khe khẽ ấp úng của chị. Và bởi vì đã “biết” chị từ trước khi cả hai cùng chờ đợi ở ngoài, bỗng dưng tôi thấy xót thương.

    Ba trải nghiệm trong lần đi khám sức khoẻ hôm đó tại bệnh viện khiến tôi suy nghĩ về quyền riêng tư và cảm giác xấu hổ của người bệnh. Liệu có quá đáng không khi đòi hỏi những điều đó trong không gian bệnh viện? Các bệnh nhân khi tìm đến bác sĩ có lẽ cũng đã chấp nhận những điều này, không phải sao?

    Tôi và gia đình đã từng đi khám tổng quát ở nhiều nơi. Trong những lần đi khám đó, chúng tôi chưa từng phải thay đồ trước mặt người lạ, hay khám tim trước mặt ai khác ngoài bác sĩ. Thật ra, sự xấu hổ sẽ vẫn luôn ở đó dù ở bệnh viện nào, cao cấp hay bình dân. Đó là sự xấu hổ nguyên sơ khi con người ý thức được hoàn cảnh bất toàn của mình. Cảm giác này có từ khi con người mới sinh ra, và tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ mất đi khi chúng ta còn tồn tại. Nhưng hình như ở các bệnh viện khác, nơi chi phí cao hơn, cảm giác này được để ý đến, được “chăm sóc” – bằng một vách ngăn, một tấm rèm, một lượt khám riêng hay một lời nói nhỏ. 
    Tôi biết bản thân mình may mắn. 
    Bởi sau lần khám này, tôi có thể có những lựa chọn khác. Nhưng còn nhiều người, họ có ít lựa chọn hơn tôi, và để họ, vì thế mà phải chấp nhận không tự nguyện việc cơ thể mình bị phơi bày quá mức, thì chẳng phải là chua xót quá sao? Hay việc mất riêng tư này là cái giá vô hình mà người ta phải trả?
    Ở đây tôi không so sánh về chất lượng dịch vụ, giữa bệnh viện này hay bệnh viện kia: trải nghiệm có dễ chịu hay không, ân cần hay không, giao tiếp có tử tế hay không? Những chuyện ấy, suy cho cùng, chỉ là phần bề mặt. Tôi nói về một điều căn bản con người: sự xấu hổ của chúng ta và nhu cầu được giữ riêng tư – điều mà hiện nay theo tôi, một cách vô tình, bệnh viện Hoà Hảo đã không chú ý đến, và hệ luỵ là để nó diễn ra như là hiển nhiên.
    Bệnh viện là một không gian đặc biệt, nơi đây con người trở nên nhỏ bé. Người bệnh luôn ở một vị thế thấp hơn trong tương quan với bác sĩ. Giữa sự bất cân xứng quyền lực này, chính thái độ của bác sĩ hay bệnh viện là điều quan trọng nhất giữ lại cho người bệnh |nhân vị| của họ, giữ cho con người không bị biến thành đơn thuần là: một ca bệnh. Một sự nhìn nhận đúng mực, một sự có mặt dịu dàng. Đôi khi như vậy thôi là đủ để con người toàn vẹn phẩm giá của mình giữa bất lực và ốm đau.
    Quay lại với bệnh viện Hoà Hảo, thật ra không cần những giải pháp tốn kém, chỉ cần bệnh viện có cái nhìn đúng về sự xấu hổ của người bệnh. Lắp thêm những rèm ngăn trong phòng thay đồ khu X-quang, khám riêng cho từng bệnh nhân trong phòng siêu âm tim và tế nhị hơn trước những thông tin của bệnh nhân ở phòng khám phụ khoa. Chỉ cần như thế.

    Chỉ cần như thế thôi.

  • Vào một chiều Chủ nhật, đối tượng của bài viết này đã đến với tôi, trình bày mong muốn được nhìn thấy. Và tôi, lần này cũng thôi không né tránh nữa, đã ngồi yên nhìn thật lâu vào đối tượng, với tất cả sự thành thật của mình, để hiểu, để hoà giải và để xem (nếu được) hai chúng tôi có thể đi đến một kết luận nào không.

    Đối tượng đó là cảm giác: hình như chính tôi đã thầm mong cho mối tình đầu của mình tan vỡ.

    Đây là lần đầu tiên tôi gọi tên được cảm giác này, cũng có nghĩa là lần đầu tôi cho nó một hình hài. Trước đây nó tồn tại mà không có dáng hình, không có danh tính. Nó chỉ là một khối rất nhỏ và lặng lẽ, nằm yên trong vùng vô thức của tôi. Nó không dám mon men bước lên tầng ý thức, bởi chỉ cần nó vừa nhú lên thôi thì những “giá trị”, “đạo đức” hay “lẽ thường” sẽ nhấn nó ngụp lặn mà phải quay ngay trở lại tầng dưới. 
    Có vẻ tự nó cũng cảm thấy mình “xấu xí” nên đã yên vị ở đó một thời gian rất lâu. 
    Còn tôi thì cũng giả vờ hết mực coi như không nhìn thấy.
    Tôi đã nghĩ nếu như tôi thừa nhận sự tồn tại của nó, tức là tôi đang không yêu người yêu của mình. Cũng có nghĩa là thừa nhận chính mình là người xấu trong chuẩn mực thường tình.
    Bây giờ nhìn lại, tôi thấy đó là thái độ tuyệt đối hoá và đơn giản hoá tình yêu. Tôi đã đánh giá trái tim của con người quá hẹp, không đủ chỗ để cùng tồn tại những điều dường như trái ngược.

    Hôm nay tôi đã thấy được nhiều điều khác, tôi nhìn ra được xuất phát điểm và những nguyên nhân sâu xa của khối nhỏ kia.
    Tôi thấy nó xuất phát từ một nhu cầu rất con người của tôi, nhu cầu được khám phá và trải nghiệm những điều mới. Nhu cầu đó xuất hiện trước tôi dưới dạng một thắc mắc âm thầm. Thắc mắc đó như sau: không biết nếu mình yêu một người khác thì sẽ ra sao? cảm giác sẽ thế nào? có vui hơn hay buồn hơn?… những câu hỏi dạng như thế và nó muốn đi tìm câu trả lời; trong trường hợp người ta yêu và cưới mối tình đầu của mình, sẽ không có câu trả lời nào cả.
    Và điều đó tạo nên một nút thắt, mà tôi cho rằng sẽ luôn có ở mối quan hệ nghiêm túc đầu tiên. (Không phụ thuộc vào thời điểm lúc đó chúng ta bao nhiêu tuổi). Một sự giằng co giữa một bên là tình yêu trong trẻo và thuần khiết nhất với bên kia là mong muốn được nhìn thấy mình ở một tương lai khác. Một sự thiếu vắng dữ liệu, vì lúc đó người ta chỉ có một mối tình duy nhất. Không có gì để đối chiếu và đôi khi người ta thắc mắc: tình yêu là thế này chăng? 

    Cùng với những thắc mắc âm thầm này là một nỗi sợ âm thầm khác, mà nhìn kỹ thì chúng nó cũng chỉ là hai mặt của một đồng xu: nỗi sợ mất tự do. Một phần nào đó trong tôi như thấy rằng mình bị trói, mình bị cột lại ở đây, mình phải cố định quá sớm ở lựa chọn đầu tiên. Chưa được thử sai đã phải dừng lại. Tôi không thể bay được nữa nếu tôi muốn bay. Tôi ở lại với một khả năng, và mất đi hàng ngàn những khả năng khác. Những ý nghĩ này khiến tôi sợ. Vô thức của tôi lo lắng cho tự do của tôi.

    Tôi cũng thấy một điều nữa, rất riêng tư, xuất phát từ chính sự phù phiếm của mình. Tôi tưởng tượng rằng việc yêu và cưới ngay người đầu tiên mình gặp thì không phiêu lưu tiểu thuyết, không lãng mạn. Cuộc đời như thiếu vắng một điều gì, giống như là tôi chưa sống đủ. Tôi mong nó kịch tính hơn, và phần nào “có câu chuyện” hơn. Tôi biết, nghe thật kỳ lạ, nhưng tôi đã từng nghĩ vậy.

    Và như thế, ba điều này – mong muốn được trải nghiệm, nỗi sợ mất tự do và sự lãng mạn phù phiếm – đã tạo ra đối tượng của tôi. Một đối tượng luôn tự nhận là mình sai, một kẻ ngoại cuộc, một tồn tại không ai mong muốn. 
    Giờ đây khi đã nhìn nhau tường tận, tôi chỉ thấy nó quá đỗi con người và tôi biết nó tồn tại như một điều tất yếu. Một người khi lần đầu nghiêm túc yêu một ai đó, chắc chắn sẽ có cảm giác này. Nó sẽ mờ đi khi người ta gắn bó nhiều hơn. Nhưng nếu người ta chọn không gắn bó với nhau nữa, thì tôi muốn nói rằng: chẳng phải vì nó. Người ta chia tay nhau vì những điều khác lớn hơn. Hôm nay tôi xin được giải phóng cảm giác này khỏi những mặc cảm của nó, nói cho nó biết rằng: nó hợp lệ và có toàn quyền tồn tại như tất cả các cảm giác trong con người tôi.  

    Viết đến đây thì tôi lại nhận ra thêm một điều nữa.
    Cảm giác này của tôi là tất yếu của lựa chọn. Nó là một tiếng vọng của những khả năng bị từ bỏ. Khi ta lựa chọn một tình yêu, ta sống với hiểu biết rằng có hàng triệu tình yêu khác đã tắt đi. Và cũng thế, trong suốt một đời người, sẽ luôn có những tiếng vọng khác – trong mối tình thứ hai hay thứ ba, khi quyết định kết hôn rồi sinh con, lựa chọn làm mẹ đơn thân, hay quyết định ở một mình… Chúng ta sẽ có lúc nghe được những âm thanh lớn nhỏ khác nhau, vang lên với tần suất khác nhau – đôi khi nó vang lên một lúc rồi dừng, cũng có khi nó ở đó, luôn luôn.
    Nếu đã vậy, chi bằng chúng ta cứ chuẩn bị tinh thần để sống cùng nhau, nhận ra nhau trong những ngày mình không khoẻ và vào những ngày khác, gắng sức ở mảnh đất mà mình đã chọn. Khi con người ta làm cho lựa chọn của mình xứng đáng, những cảm giác này sẽ tự động nằm yên.

    Two roads diverged in a wood, and I —
    I took the one less travelled by,
    and that has made all the difference.
    — Robert Frost.

  • sống và trưởng thành nghĩa là đi trên con đường của sự thật. tìm về sự thật, lột bỏ những điều không thật. từng chút từng chút một.

    mỗi một điều không thật là một gánh nặng của tinh thần. 

  • Mình đã đọc xong Anna Karenina, trong lần đọc thứ ba. Hai lần trước mình đã bỏ cuộc giữa chừng vì chưa có thói quen đọc tiểu thuyết dài và dù văn của Leo Tolstoy khá mượt, nó cũng không phải kiểu hấp dẫn đến mức làm mình phải lật trang tiếp theo.

    Dù vậy, ở lần thứ ba này mình đã bình tĩnh hơn, đọc chậm rãi và hoàn thành điều mình đã bắt đầu. (Một việc, thật buồn là mình hiếm khi làm được.) Bí quyết đơn giản là cứ dành mỗi ngày một giờ, đọc lúc uống cafe, vì ngày nào mình cũng uống cafe nên điều này tạo thành một thói quen, đọc hết thời gian quy định thì ngừng, làm chuyện khác và đến ngày mai lại tiếp tục như vậy. Cứ thế đến khoảng hai tháng rưỡi là chúng ta có thể tự hào với chính mình là đã đọc xong một tác phẩm lớn của một nhà văn lớn. Nói thế không có nghĩa là chỉ khi đọc hết mới cảm nhận được niềm vui.

    Đọc Anna Karenina, mình thấy Leo Tolstoy là một nhà văn tâm lý kỳ tài, đến nỗi mình cảm giác nếu ở trước mặt ông, người đối diện sẽ thấy bị vạch trần bởi lẽ ông có thể nhìn thấu hết những xáo động tâm lý của con người như một chiếc kính hiển vi soi thấu mọi thứ. Nhưng vạch trần cũng chỉ là để hiểu, không phải để phán xét. Leo Tolstoy là một nhà văn bao dung và thương con người, ông cũng hiểu được con người là một tập hợp đầy mâu thuẫn và không có tuyệt đối. Tuyệt đối lương thiện, tuyệt đối xấu xa, tuyệt đối yêu thương, tuyệt đối căm ghét. Tất thảy đều không có, ít ra là ở thế giới này.

    Anna yêu con trai của mình, mọi người đọc đều đồng ý chuyện đó. Ấy thế mà sau chuyến đi Mátxcơva trở về, sau khi tâm hồn đã bị tác động mạnh bởi cuộc gặp Vronski:

    “Nhưng con nàng, cũng như ông chồng, gợi cho Anna một cảm giác gần như thất vọng. Nàng đã tưởng tượng con đẹp hơn trong thực tế.
    Nàng đành quay trở về thực tại mà vui với đứa con trai vốn chỉ thế thôi, không hơn không kém;…”

    Dù ngay sau đó nàng Anna đã cân bằng lại ngay với một niềm vui khi ôm con, nỗi thất vọng thật đã ở đó, thoáng qua. Cũng như thế, Vronski yêu Anna là thật, đến cuối cùng mãi mãi đau khổ sau cái chết của Anna. Nhưng trong tình yêu đó, có những đoạn thực tế và trần trụi đến mức bất cứ ai là người trong cuộc cũng không muốn thừa nhận: 

    “Chàng nhìn nàng như một người nhìn bông hoa tàn héo mình đã hái và phải khó khăn lắm mới thấy lại vẻ đẹp đã xui anh ta hái hoa. 
    Tuy nhiên, chàng cảm thấy khi đó, lúc niềm mê say còn mãnh liệt hơn bây giờ, chàng vẫn có thể dứt bỏ mối tình khỏi trái tim nếu chàng cương quyết muốn như vậy; nhưng đến nay, khi thấy hình như không yêu nàng nữa, chàng lại vỡ lẽ ra rằng quan hệ của hai người không sao đoạn tuyệt được.”

    “Hình như không yêu nàng nữa,” nhưng mà chàng vẫn yêu nàng từ đó đến hết truyện đó thôi. Chỉ là trong cái dải tình yêu của họ, có những nơi không phải là tình yêu. Và đó là điều mà mình rất thích khi đọc truyện. Leo Tolstoy miêu tả những đời sống thật của những con người thật. Họ không là những nhân vật hư cấu, tất cả các nhân vật đều rất đáng tin và sống động – Dolly, Stepan, Levin, Kitty, Anna, Vronsky, Karenin… – tất cả họ đều có những cảm xúc, suy nghĩ, mâu thuẫn về suy nghĩ, có những lúc nghĩ nhưng không nói ra, có những khi nghĩ những điều không nên nghĩ… Tất cả họ đều rất người, và đáng yêu hơn đáng trách.

    Trên đây chỉ là hai ví dụ nhỏ của mình, trong truyện có rất rất nhiều chi tiết như thế. Ai thích những đoạn mô tả, những biến động tinh tế trong tâm lý con người thì có thể sẽ thích Anna Karenina. Mình đã đọc xong và mình… không ghét nó 😅. Mình sung sướng khi bắt gặp một diễn biến tâm lý phức tạp được nhà văn soi rọi, có những đoạn hài hước làm mình bật cười, nhưng cũng có lúc mình chịu không theo được những đoạn tả dài về hoạt động của anh chàng Levin, nhất là lúc ảnh cắt lúa và đi săn. Mình cũng gắng sức rất nhiều để đọc đến trang cuối. Nhưng mình biết đây là cuốn tiểu thuyết giá trị và mình nghiêm túc có suy nghĩ sẽ đọc lại, có lẽ là sau vài năm nữa.

    Để lên đây 1 video của đôi Levin và Kitty mà mình thấy có lẽ là hợp hình tượng nhân vật nhất trong mắt mình. Cặp đôi duy nhất tìm được hạnh phúc ở cuối truyện.

  • (tập viết – truyện ngắn #2)

    Hoàng rời quán cà phê với một tâm trạng kỳ lạ. Cái kỳ lạ đó dần chuyển thành một cơn ấm ức, một sự tức giận. Không một tiếng nói nào trên suốt đoạn đường về nhà, thằng em ngồi sau cũng chìm trong suy tư riêng của nó. Không ai phát hiện ra điều gì khác thường, không ai biết nội tâm của anh chàng có mái đầu xoăn tít đã bị xáo trộn ghê gớm.

    Hoàng cho chạy lại trong đầu đoạn câu chuyện vừa diễn ra cách đây năm phút. Người nhân viên mang ra tờ hoá đơn tính tiền: tổng 102 nghìn cho hai ly latte và hai chiếc khăn giấy.
    “Bạn ơi, mình chỉ xài một khăn,” thằng Việt lên tiếng sau khi kiểm tra tờ hoá đơn. 
    Cậu nhân viên nhanh chóng đảo mắt kiểm tra lại tình trạng hai chiếc khăn giấy trên bàn. Quả thật, một chiếc vẫn còn nguyên bao bì nằm nấp sau ly cà phê đã uống cạn.
    “Dạ, em xin lỗi em không kiểm tra kỹ. Hoá đơn đã lỡ xuất rồi không sửa lại được. Anh thông cảm giúp em.”
    Một nhịp im lặng giữa ba người. Việt nhìn Hoàng như muốn nói “giờ tính sao?” Gần đó là một đôi mắt đang nhìn hai người khẩn khoản. Tờ hoá đơn trên tay đang chờ được giải quyết, sự im lặng bắt đầu cựa quậy. Cậu em trai mở miệng toan nói gì đó thì Hoàng đã nhanh chóng chạm tay nó, đá mắt ra hiệu “thôi kệ đi” rồi rút ví trả đúng số tiền ghi trên hoá đơn. Hai anh em ra về.

    Chuyện chỉ có như thế, diễn ra rất nhanh chóng. Có một sai sót nhỏ trong việc kiểm tra số lượng khăn giấy. Hai vị khách cũng đã chấp nhận thanh toán nhiều hơn giá trị dịch vụ mình sử dụng một ngàn đồng. Họ không gây căng thẳng, không hỏi han gì thêm. Họ là những khách hàng cư xử lịch sự và cảm thông trước những nhân viên phục vụ bình thường.

    Hoàng, vốn là người lịch thiệp và biết lý lẽ, trong thời điểm quyết định đã cân nhắc con số một ngàn và cho rằng nó không đáng để truy hỏi. Một ngàn là con số mà người ta có thể bỏ qua, thậm chí là nên bỏ qua. Nếu cãi cọ chỉ vì một ngàn đồng thì chẳng phải là quá nhỏ nhen sao. Dẫu gì, rộng lượng vẫn tốt hơn. Cậu tin là mình đã đúng. Nhưng niềm tin đó èo uột yếu ớt, và nó đã bốc hơi trước khi cậu kịp ra tới bãi xe. Đã có một vết rạn trong nội tâm cậu khi phát hiện lỗi sai trong hoá đơn. Vết đó lớn dần thành một vệt đứt gãy khi người ta mong cậu thông cảm, và đến khi cậu “thôi kệ” rồi trả tiền thì nó đã trở thành một hố sâu. Từ cái hố ấy, biết bao cảm giác bủa vây lấy cậu. Tại sao mình lại phải chịu thiệt trong khi họ là người sai? Hoá đơn không sửa được thì họ phải bỏ tiền túi ra mà đền chứ. Một ngàn thôi mà! Mình nhanh nhảu quá làm gì? Đáng lẽ mình nên để cho thằng Việt nói ra cái ý của nó, thế mà mình đã ngăn nó lại. Mình thắc mắc thằng Việt sẽ nói gì. Tính nó bộc trực hơn mình, chắc nó sẽ làm cho ra lẽ. Nó sẽ kiên quyết đến cùng để đòi hỏi một điều đúng được thực hiện, dù có mất thời gian. Là mình. Mình đã tước đi quyền được lên tiếng của nó. Cũng là mình, đã tước đi quyền được sửa sai của người nhân viên kia. Nhưng anh chàng đó cũng thật kỳ. Sao có thể dừng lại ở câu “mong anh thông cảm” được chứ, đáng lẽ phải nói “em xin lỗi, em sẽ chịu phần tính sai.” Mà biết đâu, nếu không có cái nháy mắt “thôi kệ đi” của mình thì có thể cậu ấy đã có thêm thời gian để nhận trách nhiệm. Ba tiếng “thôi kệ đi” tai hại đã ngăn cản mọi thứ. “Thôi kệ đi” ám ảnh Hoàng trên suốt quãng đường về.

    Hoàng ngồi trong góc phòng nhìn tờ hoá đơn hằn những nếp gấp tư, chăm chú như thể đang nghiên cứu một tài liệu quan trọng. Cả nhà đã tắt đèn đi ngủ, chuyện trong quán đã trôi qua gần nửa ngày, thằng Việt ngon giấc trên chiếc giường đơn bên cạnh, có duy nhất Hoàng vẫn còn canh cánh. Lòng cậu nung nấu một kế hoạch “sửa sai”. Cậu quyết định ngày mai sẽ quay lại quán, làm những điều mình nên làm nhưng đã không làm. Cậu mang tinh thần đó vào giấc ngủ, mong cho trời sáng thật nhanh.

    Sáng hôm sau, Hoàng thức dậy không cần báo thức, người tỉnh táo lạ kỳ. Trời nhiều sương mù và se lạnh. Không thấy ba mẹ đâu, chắc đã đi đâu từ sớm rồi. Mặc kệ, điều Hoàng quan tâm nhất bây giờ là quay lại quán cà phê. Cậu thay bộ quần áo chỉnh tề rồi ra khỏi nhà. Đường phố vắng vẻ hơn thường ngày; có lẽ là Chủ nhật nên người ta ngủ nướng. Hoàng đã soạn sẵn trong đầu một kế hoạch, một kế hoạch đơn giản: đến quán gọi một ly nước, uống xong, gọi tính tiền và chờ đợi một phép tính sai như ngày hôm qua. Nhưng hôm nay cậu sẽ hành động hoàn toàn khác, cậu sẽ không nhượng bộ và sẽ kiên quyết bắt người phục vụ phải nhận trách nhiệm cho lỗi sai. Đây là một vấn đề nguyên tắc! “Một vấn đề nguyên tắc!” Hoàng tự nhủ.

    Bước vào quán cà phê, Hoàng đánh mắt một vòng hòng tìm người nhân viên cũ. Đâu rồi nhỉ? Kế hoạch sẽ là hoàn hảo nếu cảnh này được tái hiện với đúng người nhân viên đó. Vẫn chưa thấy đâu. Thôi mình phải tìm một chỗ ngồi đi đã. Hoàng ngồi xuống một bàn trống gần cửa sổ. Sương đã tan, vệt nắng chiếu vào lọ hoa bi trắng đặt trên chiếc bàn nơi cậu ngồi. Ly cà phê nóng toả ra một làn khói dễ chịu. Nhưng tất cả những điều này không làm cậu để ý. Cậu đến đây không phải để thưởng thức mà để: chỉnh một lỗi sai. Cậu nhâm nhi ly cà phê trong 45 phút, khoảng thời gian cậu đánh giá là vừa đủ để không khiến việc này trông như một màn kịch. Chiếc khăn giấy vẫn nằm yên như cũ. Từ nãy đến giờ vẫn không thấy cậu nhân viên cũ đâu, Hoàng kết luận hôm nay cậu ta nghỉ và đã từ bỏ sự hoàn hảo của kế hoạch.
    Hoàng ra dấu gọi tính tiền. Hôm nay còn tệ hơn hôm trước, mọi người cứ đứng ngơ ra khó hiểu. Cậu gọi đến lần thứ ba rồi mới có người phản hồi. Lần này mang hoá đơn ra là một cô bé nhân viên. 
    Hoàng nhận lấy tờ hoá đơn. “Khăn giấy – Số lượng: 1 – Đơn giá: 1,000 VNĐ”
    Dòng chữ đập ngay vào mắt cậu rõ như giọt mực bật trên tấm vải trắng. Thế đấy. Thật hết nói nổi! Sao người ta cứ sai sót mãi thôi. Cô bé này cũng chẳng khá hơn anh chàng hôm qua. Một việc cơ bản là phải kiểm tra trước khi tính tiền mà không ai làm được! Hoàng nổi giận, mà quên mất là chính bản thân mình cũng đã “chờ đợi một phép tính sai.” Hoàng quát lên với cô bé. Hàng loạt từ ngữ kỳ lạ tuôn ra đến cậu cũng không hiểu nổi. Rất nhanh, mọi thứ trở nên hỗn loạn. Có cái gì đã trượt ra khỏi dự định của cậu. Đáng lẽ chỉ cần điềm tĩnh nói chuyện rõ ràng cho người làm lỗi biết cái sai và sửa thì cậu lại quát tháo và làm ầm ĩ lên. Có thời điểm cậu đã nắm lấy cổ áo của cô nhân viên phục vụ. Một hành động bạo lực! Chính cậu cũng ý thức được điều đó và bỗng thấy giật mình hoảng sợ. 

    Và chính cảm giác hoảng sợ kia đã kéo cậu ra khỏi cơn mộng mị. 
    “Ôi, là mơ thôi sao?”
    Cậu ngồi thừ trên giường, lấy lại bình tĩnh. Nhịp tim bắt đầu điều hoà trở lại. Đồng hồ chỉ 11:27 phút, hoá ra cậu đã ngủ tới tận trưa.

    Ăn cơm trưa xong, Hoàng đánh xe ra ngoài quán cà phê và lần này là thật. Cậu đã tới nơi nhưng không vào mà lướt qua luôn. Cậu đi như thế thêm hai vòng nữa. Bỗng dưng cậu thấy phân vân. Cái cảm giác ám ảnh cậu ngày hôm qua đến lúc này đã dịu lại đáng kể. Cậu không còn thấy sôi sục hay quá ấm ức. Hố sâu đã quay ngược lại thành vết rạn. Cậu bắt đầu tự hỏi mình có cần phải vào lại quán đó không, mà nếu vào thì cũng chưa chắc mình sẽ gặp lại tình huống cũ. Cậu thương lượng với bản thân. Năm mươi ngàn cho một ly cà phê cũng không ngon lắm. Tự nhiên cậu cảm thấy phí tiền. “Thôi, mình bỏ quán này đi là được. Từ giờ không quay trở lại nữa.” Cậu ra quyết định sau khi đã chạy đến vòng thứ năm. Ký ức hôm qua nằm im ngay ngắn, không ai đào xới thêm, không có “sửa sai,” cũng chẳng có trật tự nào cần phải được lập lại.

    Một cơn gió thổi qua mái đầu xoăn, cậu cảm thấy mát mẻ và dễ chịu.

    Hoà vào dòng người ngược xuôi chiều Chủ nhật, cậu ghé thẳng một quán bên đường rồi gọi một ly cà phê sữa mang đi.

  • (tập viết – truyện ngắn #1)

    Cậu thường ước gì nhà mình ở gần công viên. Như vậy cậu có thể ra đó đi bộ mà không phải vào phòng tập, một nơi vừa tốn kém lại vừa nhàm chán: không gió trời, không cây xanh, không người qua lại, mọi thứ đứng yên (kể cả thời gian), vật duy nhất chuyển động là tấm thảm được gắn vào máy. Thêm nữa, phòng tập không cho cậu được sự riêng tư. Một lần nọ chú giữ xe đã bắt chuyện với cậu, chỉ vài ba câu xã giao thôi, nhưng sự kiện đó đã đặt ra cho cậu vấn đề nan giải, đó là: hôm nay mình có cần phải giao tiếp bằng mắt với chú ấy hay không? Cậu mong muốn được đến và đi trong im lặng, thế nên chuyện này làm cậu phiền lòng ghê gớm. Ở công viên, tưởng là nơi công cộng nhưng thật ra lại vô cùng riêng tư, chẳng ai nhìn cậu, và dù có chào hỏi cũng chưa chắc sẽ gặp lại nhau ngày mai. 

    Tiếc thay, nơi cậu ở không có một cái công viên nào, cái gần nhất cũng cách gần 1 tiếng rưỡi chạy xe. “Thôi được, không cần công viên. Mình có thể đi bộ trên vỉa hè,” cậu quyết định – “ngắm phố phường cũng thú vị chứ sao.”

    Và cậu thi hành cái quyết định đó một cách nhanh chóng.

    Sau một tháng tận dụng việc đi bộ trên vỉa hè như một bài tập thể chất, cậu đã phát triển được vài kỹ năng và như giới trẻ thường nói là “đã nắm được insight.” Điều vẫn xảy ra khi chúng ta thực hành việc gì đó lâu dài.

    Đầu tiên phải nói tới khả năng giữ thăng bằng. Vỉa hè chưa bao giờ là một con đường thẳng tắp (ít nhất là trong khu của cậu), có (nhiều) lúc cậu cần phải nghiêng bên này, lách bên kia để né, khi thì là những chiếc xe máy đậu trước một cửa hàng, lúc thì là mấy bộ bàn ghế của một tiệm ăn. Và trong trường hợp vỉa hè chỉ rộng 1m thì cậu phải nhường, phải bước xuống lòng đường, nhưng cần khéo léo không ra quá xa và nhảy lên ngay khi có chỗ đặng không va chạm với những phương tiện đang băng băng trên đường. Kỹ năng này được bồi dưỡng một cách tự nhiên chỉ sau 3 ngày.

    Thứ đến nữa là khả năng quan sát. Cậu phát hiện mình chú ý nhìn hơn khi đi trên vỉa hè. Thật kỳ lạ là con đường lát đá hoa nhưng hiếm khi bằng phẳng. Chỗ này thiếu vài ba mảng đá, chỗ kia lại dư dả mà xô vào nhau, thành ra cứ đi được một đoạn là lại thấy một ô trũng nước, rồi một đoạn khác là một ụ nhô lên, và còn có cả những bãi hữu cơ từ những con (vật) có chủ hay vô chủ vẫn cứ lâu lâu nằm rải rác trên vỉa hè. Với những điều kiện này, nếu không để ý nhìn đường là người ta có thể dính vấp như chơi, nhưng cậu thì chưa bao giờ gặp vấn đề gì cả. Óc quan sát của cậu đã được mài bén như dao.

    Nói chung, những “thử thách” có thể đối mặt khi đi trên vỉa hè cậu đã dễ dàng vượt qua và thích nghi hiệu quả, chỉ trừ một đối tượng: đám chó nhà số 43. Căn nhà phố 2 tầng không cổng, chỉ có hai cánh cửa sắt hầu như luôn để mở một bên lộ ra 3 con Rottweiler. Mỗi khi đi ngang qua, cậu không thể không bật lên một ý nghĩ đề phòng: “Nếu nó nhảy xổ ra, mình phải đá nó. Đá thật mạnh, thật dứt khoát.” Dù chỉ là phương án cho trường hợp xấu nhất, ý nghĩ phải “đá một con chó” khiến cậu bối rối vô cùng. Nhà cậu nuôi mèo và cậu không hề ghét động vật. Cậu mong mình có cái nhìn thân thiện hơn với con vật này nhưng chuyện xảy ra cách đây hơn 10 năm đã xoá sạch khả năng đó. 

    Đó là một buổi chiều hè, cậu vẫn còn nhớ, khi đứng sau chiếc cổng xanh ngăn cách cậu với con chó Becgie nhà thằng Vinh, mẹ nó nói vọng ra: “Cứ vô đi con, nó không cắn đâu.” Câu nói mà với kinh nghiệm bây giờ cậu thấy nó giá trị như lời hứa của những người bán hàng đa cấp. Nhưng ngày đó cậu đâu biết gì; cậu bé lớp 9 ngây thơ đẩy cửa bước vào một cách tự tin và chỉ chưa đầy 10 giây sau, con Lu đã phi tới, táp cậu một phát cực sâu ở cẳng chân. Cậu cảm giác rõ hàm răng nhọn hoắt của nó cắm phặp vào lớp da mỏng, rồi day qua day lại. Máu bắt đầu chảy xuống dưới chân, qua ống quần, nhỏ xuống đất. Người lớn trong nhà hốt hoảng chạy lại gần hòng gỡ con chó ra. Nhưng đã quá muộn. Cậu khóc rống lên khi cảm giác đau đớn truyền từ dây thần kinh dưới chân lên đến não cậu. Kể từ đó, cậu hình thành một phức cảm kỳ lạ đối với con vật này và cả câu nói “vô đi con, nó không có cắn đâu.”

    Kinh nghiệm xương máu đó đã dạy cho cậu rằng: không có thời gian để chần chừ, phải ra đòn thật nhanh không nương chân khi nó vừa tấn công. “Muốn không bị cắn lần nữa thì ta nhất định phải lạnh lùng,” cậu tự nhủ. Cậu nhẩm đến thuộc lòng và luyện tập động tác đá, rèn nó trở thành phản xạ, thầm mong rằng sẽ không phải dùng đến. Cậu đồng thời cũng chuẩn bị lời giải thích cho mình nếu sự việc xảy ra: “Mình chỉ tự vệ thôi, nó tấn công mình trước.”

    Cuối cùng thì, điều gì đến đã đến, khi bạn sợ điều gì quá nhiều nó sẽ xảy ra. 

    7 giờ 30 phút tối ngày 31/10, đêm không trăng không sao, chỉ có ánh đèn đường hắt một vầng yếu ớt xuống vỉa hè, ngôi nhà số 43 vẫn thế, phòng khách sáng đèn đang mở tivi, cánh cửa sắt mở hé nhưng lúc này chỉ thấy mỗi một con nằm ườn trên cái ổ đồ chơi của nó, hai con còn lại có lẽ đã ở dưới bếp nên không thấy đâu. Cậu đi ngang qua căn nhà, chậm rãi và quan sát kỹ, nhớ nằm lòng nguyên lý thông thường khi đối mặt với chó – nhìn vào mắt nó và tuyệt đối không được chạy. Lúc cậu đi đến giữa cánh cửa mở thì đột nhiên con vật nhìn về phía cậu. Cái đầu lười biếng đang tựa trên thành ổ bất ngờ dựng dậy, và kéo theo rất nhanh là cả thân hình nó. Nhoáng một cái đã nhổm dậy, vào tư thế, mà cậu biết rõ, chính là tư thế lấy đà. Chớp mắt con vật đã phi nhanh ra cửa, hai con còn lại cũng từ đâu xuất hiện phóng tới đồng thời. Cả ba phóng với một tốc độ khủng khiếp, trái ngược hoàn toàn với thân hình ục ịch của mình. Ngay chính lúc này, phản xạ của cậu đã lên tiếng. Dứt khoát, không chần chừ, cậu xoay người thẳng chân đá một nhát thật nhanh vào ngực con chó đầu tiên khi nó chỉ còn cách cậu nửa mét. Con vật tội nghiệp đụng phải đòn cước bay dội ngược về sau, đầu đập vào bậc lên xuống. Nó nằm bất động, cậu bất động, con người vừa mở cửa xe ở đằng sau cậu cũng bất động nốt. Ôi, hoá ra tụi nó đang chạy ra mừng người bà con xa lâu ngày tới thăm. Chiếc xe màu đen và con người này ở đâu ra? Sao cậu lại không thấy họ chứ?

    Sự việc đã để lại hậu quả nghiêm trọng. Con chó đáng thương bị gãy xương chân và cổ. Nó buộc phải băng bó và nằm yên trong một thời gian dài. Phí điều trị gần chục triệu đồng và tất cả đều đồng ý là cậu phải chịu trách nhiệm. Lời biện hộ cậu chuẩn bị sẵn đã không thể sử dụng, bởi vì tụi nó không chạy ra để cắn cậu! 

    Thế là hết. Cậu mất chục triệu, mang tiếng là đã đá một con chó đến chấn thương, và hoạt động đi bộ trên vỉa hè cũng chính thức dừng lại.

    Cậu chán nản thầm trách cho cái số của mình, rồi lại ước: 

    “Giá mà gần nhà mình có một cái công viên.”

  • thôi hôm nay ta hãy xác định với mình rằng ta chẳng có bất kỳ năng khiếu nào cho việc viết văn cả. như thế có lẽ sẽ dễ dàng hơn cho tinh thần, để thôi không mắc vào những ảo tưởng phù phiếm, tưởng như có điều gì đặc biệt ở mình. không có điều gì như thế. từ bây giờ trở đi, bắt đầu từ con số 0 và tiến tới từng chút một. (sẽ lết lê từng bước nếu cần thiết phải thế). viết xuống một từ, rồi lại một từ. dựng một câu văn, rồi tiếp một câu. và trong lúc đó, cố gắng chịu đựng sự bất mãn của bản thân về những điều mình viết cùng với một trái tim ngờ vực nặng nề. 
    dù sao thì, con đường này mình đã chọn sẽ đi. mọi vui buồn xin vui lòng nhận lãnh.